Ảnh hưởng của quản trị công ty đến sai sót báo cáo tài chính

Ảnh hưởng của quản trị công ty đến sai sót báo cáo tài chính
Ảnh hưởng của quản trị công ty đến sai sót báo cáo tài chính trên thị trường chứng khoán

Mục đích của bài viết này là kiểm tra các yếu tố thuộc về quản trị công ty trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Các báo cáo tài chính được chọn cho thấy rằng có bốn yếu tố thuộc về quản trị công ty ảnh hưởng đến các vi phạm trong báo cáo tài chính, bao gồm các yếu tố liên quan đến số lượng cuộc họp của hội đồng quản trị, quy mô của hội đồng quản trị, tính hai mặt của Giám đốc điều hành và quyền sở hữu của các cổ đông lớn. Kết quả cũng chỉ ra rằng việc chuyển đổi công ty kiểm toán và khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến sự vi phạm báo cáo tài chính.

Nghiên cứu về gian lận báo cáo tài chính

Nghiên cứu về gian lận báo cáo tài chính thu hút sự quan tâm lớn của các nhà học thuật trên thế giới. Các nghiên cứu xem xét đặc điểm của cơ chế giám thông qua quản trị công ty với các thành tố cốt lõi là hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm toán nội bộ và chất lượng của kiểm toán độc lập. Nhìn chung, các nghiên cứu đều có sự đồng thuận về vai trò quan trọng của quản trị công ty trong việc hạn chế sai sót báo cáo tài chính (Chen & cộng sự, 2006; Dechow & cộng sự, 1996; Jensen, 2001).

Thị trường tài chính Việt Nam còn non trẻ, khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, quản trị công ty còn chưa tốt dẫn đến xảy ra sai sót báo cáo tài chính Ở Việt Nam khá phổ biến (Nguyễn Công Phương & cộng sự, 2016; 2020). Xem xét nguyên nhân có thể giải thích sai sót báo cáo tài chính, nghiên cứu của Nguyễn Công Phương & Lâm Xuân Đào (2016) cho thấy các nhân tố sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch Hội đồng quản trị và giám đốc, nhân tố số công ty con có ảnh hưởng đến sai sót báo cáo tài chính. Cũng trong năm 2016, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân & Trương Thùy Dương (2016) cho thấy bốn khía cạnh của cơ cấu hội đồng quản trị là quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên không điều hành, số thành viên có quan hệ gia đình, thành viên hội đồng quản trị có chuyên môn tài chính và nhiệm kỳ của thành viên hội đồng quản trị không điều hành có ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính.

Một số nghiên cứu điển hình trên đây phần nào tổng lược và giải thích được sai sót báo cáo tài chính dựa vào quản trị công ty. Tuy nhiên, mẫu có kích thước nhỏ, chưa nghiên cứu qua nhiều năm, và các biến nghiên cứu chưa xem xét đủ các nhân tố cần thiết là một hạn chế của nghiên cứu này. Mặt khác, các nghiên cứu này cũng cho kết quả chưa thống nhất liên quan đến một số biến giải thích như quy mô hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm, sự độc lập của hội đồng quản trị.

Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến sai sót báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua vận dụng mô hình hồi quy nhị phân. Kết quả phân tích cung cấp bằng chứng về sự ảnh hưởng của bốn nhân tố thuộc về quản trị công ty đến sai sót báo cáo tài chính, gồm quy mô hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm, số cuộc họp của hội đồng quản trị, và sơ hữu của cổ đông lớn bên ngoài ảnh hưởng đến sai sót báo cáo tài chính. Ngoài ra, thay đổi kiểm toán độc lập cũng có ảnh hưởng đến sai sót báo cáo tài chính. Kết quả này góp phần bổ sung thêm minh chứng về ảnh hưởng của quản trị công ty đến sai sót BTCT ở một nước đang phát triển.

Bài viết được tổ chức như sau. Nội dung thứ hai trình bày tổng quan nghiên cứu và giả thuyết. Phương pháp nghiên cứu được trình bày ở nội dung thứ ba. Nội dung thứ tư liên quan đến kết quả nghiên cứu. Cuối cùng là hàm ý và kết luận.

Nhận diện vấn đề sai sót báo cáo tài chính

Các nghiên trước đây về giải thích sai sót báo cáo tài chính (ví dụ như Abbott & cộng sự, 2004; Chen & cộng sự, 2006; Dechow & cộng sự, 1996; Kryzanowski & Zhang, 2013) được thực hiện phần lớn ở các nước phát triển đã nhận diện vấn đề sai sót báo cáo tài chính của các công ty, các nguyên nhân sai sót chủ yếu đến từ đặc điểm quản trị công ty và các thuộc tính của công ty.

Theo lý thuyết đại diện, tính hữu hiệu của hoạt động giám sát của hội đồng quản trị phụ thuộc một phần vào quy mô của hội đồng quản trị (Huther, 1997). Jensen & Meckling (1979) cho rằng quy mô hội đồng quản trị nhỏ hơn thì tính hữu hiệu cao hơn so với hội đồng quản trị có quy mô lớn. Một số nghiên cứu khác cho thấy quy mô nhỏ thì tính hữu hiệu của hội đồng quản trị cao hơn trong việc gia tăng giá trị công ty (Huther, 1997), quy mô hội đồng quản trị lớn hơn thì khả năng sai sót báo cáo tài chính nhiều hơn và chức năng giám sát của nó ít hữu hiệu hơn hoặc (Abbott & cộng sự, 2004; Dechow & cộng sự, 1996; Jensen, 1993; Lipton & Lorsch, 1992). Tiếp theo đó, Uzun & cộng sự (Uzun, Szewczyk, & Varma, 2004), Chen & cộng sự (2006), Trần Thị Giang Tân & Trương Thùy Dương (2016) không thể tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ giữa quy mô hội đồng quản trị và sai sót báo cáo tài chính. Từ đó giả thuyết được đặt ra như sau:

Quy mô của hội đồng quản trị lớn thì khả năng sai sót báo cáo tài chính thấp.

Theo lý thuyết đại diện, sự độc lập của hội đồng quản trị là một nhân tố góp phần giám sát hữu hiệu hơn hành động của ban giám đốc, nhằm đạt được lợi ích của cổ đông. Nghiên cứu của Dechow & cộng sự (1996), Abbott & cộng sự (2004), Beasley (1996), và Farber (2005) tìm thấy bằng chứng rằng, hội đồng quản trị càng độc lập thì ít có khả năng sai sót báo cáo tài chính. Mặt khác, DeZoort & Salterio (2001) tìm thấy bằng chứng về thành viên hội đồng quản trị độc lập hỗ trợ tích cực các kiểm toán viên độc lập trong việc giải quyết

các tình huống xung đột giữa kiểm toán độc lập và ban giám đốc. Nghiên cứu của Nguyễn Công Phương & Lâm Xuân Đào (2016) không tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ giữa sự độc lập hội đồng quản trị và sai sót báo cáo tài chính. Ngược lại, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân & Trương Thùy Dương (2016) tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ này. Từ đó, giả thuyết về ảnh hưởng sự độc lập của hội đồng quản trị đến sai sót báo cáo tài chính cần được kiểm chứng ở Việt Nam.

Hội đồng quản trị có sự độc lập cao thì khả năng sai sót báo cáo tài chính thấp.

Lý thuyết đại diện cho rằng, chức năng giám sát của hội đồng quản trị hữu hiệu hơn khi chủ tịch hội đồng quản trị không kiêm nhiệm giám đốc. Phù hợp với lý thuyết đại diện, nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng, sự phân chia vai trò cung cấp khả năng giám sát tốt hơn và cân bằng đối với hiệu quả của công ty (Argenti & Argenti, 1976; Stiles & Taylor, 1993). Beasley (1996), Dechow & cộng sự (1996), Abbott & cộng sự (2004) cho rằng, khi chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành thì làm giảm tính hữu hiệu của chức năng giám sát của hội đồng quản trị đối với giám đốc điều hành. Mặc dù vậy, các nghiên cứu này đều không có ý nghĩa thống kê. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Công Phương & Lâm Xuân Đào (2016) tìm thấy kết quả về ảnh hưởng của sự kiêm nhiệm đến khả năng sai sót báo cáo tài chính. Ngược lại, Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) không tìm thấy ảnh hưởng của sự kiêm nhiệm đến sai sót báo cáo tài chính. Từ những kết quả còn chưa thống nhất trên, giả thuyết được đặt ra như sau:

Những công ty có chủ tịch hội đồng quản trị kiêm nhiệm giám đốc thì khả năng có sai sót báo cáo tài chính cao.

Tính hữu hiệu về giám sát của hội đồng quản trị theo lý thuyết đại diện cũng được thể hiện tần suất cuộc họp trong năm tài chính. Jensen (1993) lập luận rằng, số cuộc họp của hội đồng quản trị không thể được sử dụng để xác định tính hữu hiệu của hội đồng quản trị. Lipton & Lorsch (1992) tìm thấy bằng chứng rằng hội đồng quản trị có họp thường xuyên thì hành động nhiều hơn trong việc đảm bảo cho công ty vận hành hướng đến đạt được lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Kamarding & Haron (2011) cho rằng, số cuộc họp của hội đồng quản trị càng nhiều cho thấy các thành viên hội đồng quản trị biết rõ hơn hoạt động của công ty và từ đó thực hiện chức năng giám sát thực hiện chiến lược của công ty tốt hơn. Ngược lại, Vafeas (1999) tìm thấy bằng chứng rằng, hội đồng quản trị họp thường xuyên dẫn đến hiệu quả hoạt động yếu kém của công ty

Hội đồng quản trị có nhiều cuộc họp trong năm thì khả năng sai sót báo cáo tài chính thấp.

Lý thuyết đại diện nhấn mạnh cơ chế giải quyết xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và người quản lý. Người quản lý có thể thực hiện các hành động quản trị nhằm đạt được lợi ích cá nhân thay vì lợi ích của công ty. Theo Beasley (1996), mức độ sở hữu của người điều hành có thể có ảnh hưởng khác nhau đến khả năng người điều hành sẽ thực hiện các hành động dẫn đến sai sót báo cáo tài chính. Chen & cộng sự (2006) chỉ ra rằng sở hữu quản lý càng cao thì khả năng sai sót báo cáo tài chính càng thấp. Loebbecke & cộng sự (1989) lập luận rằng, sở hữu cổ phần của người quản lý có thể tạo ra động cơ cho người quản lý làm tăng ảo giá cổ phiếu thông qua các hành động có thể dẫn đến sai sót báo cáo tài chính. Các lập luận trái chiều và kết quả nghiên cứu chưa đồng thuận đặt ra yêu cầu cần phải kiểm định thêm.

Mức độ sở hữu của người quản lý công ty lớn thì khả năng sai sót báo cáo tài chính cao.

Theo lý thuyết đại diện, cổ đông luôn tìm cách giám sát hành vi gây tổn hại đến lợi ích của họ. Shleifer & Vishney (1986), Jensen (1993), Beasley (1996) lập luận rằng, sở hữu của cổ đông lớn có động cơ giám sát ban điều hành công ty và được xem là cơ chế kiểm soát bổ sung, từ đó làm giảm khả năng gian lận báo cáo tài chính. Kết quả nghiên cứu của Beasley (Beasley, 1996) không tìm thấy ảnh hưởng của cổ đông lớn đến sai sót báo cáo tài chính

Mức độ sở hữu của cổ đông lớn bên ngoài cao thì khả năng sai sót báo cáo tài chính thấp.

Bộ Tài chính (2012) đưa ra hướng dẫn về quy mô của ban kiểm soát là từ 3 đến 5 thành viên. Quy mô của ban kiểm soát càng lớn thì ban kiểm soát có thể bao quát và giám sát tốt hơn (Kalbers & Fogarty, 1993). Tuy nhiêu, chưa hẳn số lượng thành viên nhiều thì chức năng giám sát càng hữu hiệu mà còn tùy thuộc vào tính độc lập, năng lực và mức độ thực thi nhiệm vụ của ban kiểm soát. Nghiên cứu của Abbott & cộng sự (2004) không tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ giữa quy mô ban kiểm toán nội bộ và sai sót báo cáo tài chính. Kết quả chưa thống nhất này cần được kiểm chứng ở Việt Nam.

Quy mô của ban kiểm soát lớn thì khả năng sai sót báo cáo tài chính càng thấp.

Nghiên cứu ở các nước theo mô hình quản trị công ty đơn cấp (chỉ có ban kiểm toán nội bộ thuộc hội đồng quản trị) đánh giá ảnh hưởng của ban kiểm toán nội bộ đối với sai sót báo cáo tài chính. Nghiên cứu của Agrawal & Chadha (2005), Abbott & các cộng sự (2004) gợi ý rằng tồn tại mối liên hệ nghịch chiều giữa sự hiện diện của các chuyên gia tài chính – kế toán trong ban kiểm toán nội bộ với sai sót báo cáo tài chính. Tuy nhiên, mặc dù ban kiểm soát có nhiều chuyên gia tài chính, tính độc lập của ban kiểm soát, thực hiện hữu hiệu chức năng giám sát của mình luôn là vấn đề còn xem xét.

Ban kiểm soát có nhiều chuyên gia tài chính thì khả năng sai sót báo cáo tài chính thấp.

Chất lượng kiểm toán là các yếu tố quan trọng của tính hữu hiệu kiểm toán và có thể đóng một vai trò trọng yếu trong việc ngăn ngừa, tìm kiếm và phát hiện sai sót báo cáo tài chính. Theo Farber (2005) và Sennetti & Turner (2001), sự hiện diện của công ty kiểm toán Big 4 có mối quan hệ nghịch chiều với sai sót báo cáo tài chính. Ngược lại, nghiên cứu của Chen & cộng sự (2008) cho thấy chất lượng kiểm toán độc lập không có mối liên hệ với sai sót báo cáo tài chính. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Công Phương & Lâm Xuân Đào (2016), Trần Thị Giang Tân & Trương Thùy Dương (2016) cũng không tìm thấy bằng chứng ảnh hưởng của Big 4 đối với sai sót báo cáo tài chính. Mặc dù vậy, dựa vào lý thuyết, nghiên cứu đặt ra giả thuyết về ảnh hưởng nghịch chiều của chất lượng kiểm toán đến sai sót báo cáo tài chính.

Các công ty được kiểm toán bởi Big 4 thì khả năng sai sót báo cáo tài chính thấp.

Đánh giá mối liên hệ giữa kiểm toán độc lập với khách hàng, phần lớn các nghiên cứu đều tập trung đánh giá ảnh hưởng của thay đổi kiểm toán viên và nhiệm kỳ kiểm toán của họ đến khả năng xảy ra sai sót báo cáo tài chính. Johnson & cộng sự (2002), Carcello & Nagy (2004) tìm thấy bằng chứng rằng, nhiệm kỳ các công ty kiểm toán càng ngắn (2 hoặc 3 năm) thì chất lượng báo cáo tài chính càng thấp. Nghiên cứu của Brown & Knechel (2016) tìm thấy bằng chứng về thay đổi công ty kiểm toán đến từ điều kiện và sự tương thích của khách hàng và công ty kiểm toán. Việt Nam không có quy định về nhiệm kỳ công ty kiểm toán. Lựa chọn thay đổi công ty kiểm toán ở Việt Nam có thể là tăng chất lượng kiểm toán, cũng có thể làm cho phù hợp với điều kiện và tương thích giữa công ty với công ty kiểm toán. Từ những lập luận trên, giả thuyết cho rằng lựa chọn thay đổi công ty kiểm toán là nhằm tăng chất lượng kiểm toán.

Công ty có thay đổi kiểm độc lập thì khả năng sai sót báo cáo tài chính thấp.

Kết quả này tiếp tục khẳng định kết quả từ các nghiên cứu trước đây về vai trò của quản trị công ty đối với sai sót báo cáo tài chính.

Kết quả nghiên cứu ngụ ý rằng, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cần duy trì một số lượng đủ lớn thành viên hội đồng quản trị để đảm bảo việc kiểm tra, giám sát ban giám đốc nhằm đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính. Kết quả cũng gợi ý rằng, tách biệt sự kiêm nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc sẽ góp phần giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót báo cáo tài chính. Điều này sẽ hạn chế việc giám đốc vì những động cơ, lợi ích riêng mà làm sai lệch thông tin trên báo cáo tài chính. Tăng cường số cuộc họp của hội đồng quản trị, tăng sở hữu của cổ đông lớn cũng góp phần hạn chế sai sót báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, các công ty niêm yết cần thay đổi kiểm toán độc lập để tăng cường sự độc lập của kiểm toán, góp phần hạn chế sai sót báo cáo tài chính.

Mặc dù kết quả không hoàn toàn đồng thuận với các nghiên cứu trước đây, điều này có thể do nhiều yếu tố khác nhau như đặc thù về khuôn khổ pháp lý, môi trường hoạt động

https://seotravel.net/y-kien-kiem-toan-va-tac-dong-toi-gia-co-phieu-cua-cac-doanh-nghiep-xay-dung/

5/5 - (5 bình chọn)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

This site uses cookies. By browsing this website, you agree to our use of cookies. Visit our Privacy Policy