Xu hướng lạm phát và Hiệu quả chính sách

Giới thiệu Xu hướng lạm phát và Hiệu quả chính sách ở Việt Nam

Bài học từ các cuộc khủng hoảng trước đây cho thấy điểm yếu trong quá trình thực thi chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV). Có thể thấy rằng chính sách tiền tệ theo đuổi nhiều mục tiêu đồng thời như ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế là thiếu thực tế. Việc không xác định rõ mục tiêu quan trọng nhất để thực hiện này làm cho việc quản lý và điều hành chính sách tiền tệ trở nên không hiệu quả. Ngoài ra, cơ chế phối hợp giữa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chưa linh hoạt cả về mặt thời điểm và mức độ, tạo thành những cú sốc chính sách tiêu cực tới nền kinh tế. Một điểm yếu nữa là SBV vẫn chưa kiên định trong việc theo đuổi một tỷ lệ lạm phát mục tiêu. Bảng 1 cung cấp bằng chứng về mục tiêu và thực hiện thực tế để chỉ ra sự thiếu nhất quán này của SBV.

Xu hướng lạm phát và Hiệu quả chính sách
Lạm phát CPI Việt Nam

Ngoài ra, cũng ghi nhận bằng chứng về sự thay đổi của lạm phát xu hướng – được hiểu như lạm phát mục tiêu đặt ra bởi ngân hàng trung ương. Hình 1 cho thấy diễn biến của lạm phát CPI Việt Nam từ năm 1996Q1 đến 2015Q4. Số liệu chỉ ra rằng lạm phát tăng mạnh trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế như khủng hoảng tài chính Châu Á và khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2007. Nếu phân chia cả thời kỳ thành các giai đoạn nhỏ và tính lạm phát trung bình trong các giai đoạn này (đường mầu đỏ trong Hình 1), chúng tôi ghi nhận sự thay đổi trong giá trị trung bình của lạm phát hoặc lạm phát xu hướng thay đổi theo thời gian. Hơn nữa, sự gia tăng lạm phát là một quá trình từ từ thay vì biểu hiện như một cú sốc gia tăng đột biến. Nó hàm ý rằng sự gia tăng lạm phát xu hướng là một quá trình dai dẳng trong giai đoạn khủng hoảng.

Mục tiêu của chính sách tiền tệ và thực hiện trong giai đoạn 2000-2015
Mục tiêu của chính sách tiền tệ và thực hiện trong giai đoạn 2000-2015

Như vậy, chúng tôi nhận thấy rằng lạm phát xu hướng thay đổi – được hiểu như là sự không nhất quán trong thực thi chính sách (Nakata, 2014) – là một vấn đề nghiêm trọng ở các nước đang phát triển, như Việt Nam. Sự không hiệu quả trong thực thi chính sách này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới nền kinh tế và gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Các nghiên cứu về lạm phát xu hướng thay đổi – hay sự không nhất quán trong quá trình thực thi chính sách – đã được tiến hành ở các nghiên cứu trước đây. Ví dụ, Kozicki & Tinsley (2001) đã chỉ ra sự thay đổi của cấu trúc kỳ hạn lãi suất do lạm phát xu hướng. Cogley & cộng sự (2009) đã chỉ ra tầm quan trọng của lạm phát xu hướng thay đổi trong dự báo lạm phát, trong khi Nakata (2014) đã tiến hành tính toán chí phí phúc lợi của vấn đề này. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây vẫn chỉ tập trung vào các nước phát triển, trong khi đặc tính lạm phát xu hướng thay đổi theo thời gian – một đặc điểm nổi bật của một nước đang phát triển như Việt Nam – lại chưa được khai thác hợp lý.

Các nghiên cứu trước đây thường giả định rằng lạm phát ở trạng thái ổn định (lạm phát xu hướng) bằng không. Cách tiếp cận này rất thuận tiện vì nó có thể tạo ra một mô hình đơn giản và dễ kiểm soát nhưng đồng thời dẫn tới những kết luận sai lầm. Nhận ra những hạn chế này, Ascari (2004) và Bakhshia & cộng sự (2007) đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong các thuộc tính ngắn hạn và dài hạn của mô hình dựa trên mô hình thiết lập giá của Calvo với lạm phát xu hướng. Cụ thể, Ascari (2004) nghiên cứu hàm phản ứng của sản lượng đối với cú sốc tăng trưởng tiền tệ tại các mức lạm phát xu hướng khác nhau để phân tích tác động của lạm phát xu hướng đối với sản lượng. Bakhshia & cộng sự (2007) đã tiến hành nghiên cứu tác động của lạm phát xu hướng đối với độ dốc của NKPC. Những đóng góp ban đầu của Ascari (2004) và Bakhshia & cộng sự (2007) đã xây dựng một nền tảng lý thuyết giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp nối có thể tiếp tục khai thác các hàm ý kinh tế khác nhau của lạm phát xu hướng. Ví dụ, tác động của lạm phát xu hướng với chính sách tiền tệ tối ưu được xem xét bởi Ascari & Ropele (2009). Các tác giả cho thấy có sự giảm hiệu quả trong việc kiểm soát lạm phát cũng như ảnh hưởng mạnh mẽ của lạm phát xu hướng đến chính sách tiền tệ tối ưu nếu lạm phát xu hướng cao hơn. Amano & cộng sự (2007) phân tích các tác động kinh tế vĩ mô của lạm phát xu hướng và từ đó đưa ra tỷ lệ lạm phát tối ưu.

Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây phần lớn bỏ qua đặc tính thay đổi theo thời gian của lạm phát xu hướng. Chỉ gần đây, đặc tính này mới thu hút nhiều hơn sự chú ý của các tác giả trong việc khai thác ý nghĩa kinh tế của nó đối với các biến động kinh tế vĩ mô. Một trong những người tiên phong, Kozicki & Tinsley (2001), đã cố gắng phân tích tác động của lạm phát xu hướng thay đổi đối với cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Sau đó, một phiên bản mới của NKPC, bằng việc lấy log-linear xung quanh lạm phát xu hướng thay đổi trong mô hình định giá Calvo, được Cogley & Sbordone (2008) đưa ra để điều tra tác động của tính trượt lạm phát xu hướng lên các thông số ước tính và chỉ ra rằng việc kiểm soát lạm phát xu hướng có ý nghĩa quan trọng trong việc ước tính các tham số của NKPC. Cogley & cộng sự (2009) tìm hiểu ý nghĩa của lạm phát xu hướng thay đổi để dự đoán lạm phát. Gần đây, Nakata (2014) sử dụng mô hình quy mô nhỏ DSGE với độ cứng nhắc danh nghĩa và chỉ ra một chi phí phúc lợi không đáng kể của lạm phát xu hướng.

Lạm phát xu hướng thay đổi là một đặc điểm nổi bật tại các nước đang phát triển. Nghiên cứu này đã cung cấp một phân tích để đánh giá ảnh hưởng đa chiều, bao gồm phản ứng biến vĩ mô tới các cú sốc, chi phí sự phân tán giá, và vùng ổn định kinh tế vĩ mô của lạm phát xu hướng tại Việt Nam. Với giả định rằng SBV sử dụng hai công cụ: lãi suất danh nghĩa và cung tiền. Kết quả chỉ ra rằng lạm phát xu hướng làm tăng tác động tiêu cực của các cú sốc tới các biến vĩ mô, sự sụt giảm của năng suất tổng hợp hiệu quả, và sự thu hẹp của vùng ổn định vĩ mô. Các tác động tiêu cực này trở nên mạnh hơn khi SBV sử dụng công cụ cung tiền để quản lý nền kinh tế. Những bằng chứng này cung cấp những cơ sở cho rằng công cụ cung tiền có thể không phải là một công cụ hiệu quả khi nền kinh tế có những thay đổi về tỷ lệ lạm phát mục tiêu. Cuối cùng, để đảm bảo khả năng hiệu quả của chính sách tiền tệ, chính phủ cần tập trung các nguồn lực để đạt được mục tiêu về lạm phát và hạn chế theo đuổi mục tiêu tăng trưởng sản lượng.

5/5 - (1 bình chọn)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

This site uses cookies. By browsing this website, you agree to our use of cookies. Visit our Privacy Policy