Đóng góp của di cư lao động đối với đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình

Bài viết xem xét đóng góp của di cư lao động đối với đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình ở Việt Nam.

Trong lĩnh vực nghiên cứu di cư, Ravenstein (1885) được xem là nhà nghiên cứu tiên phong đã chỉ ra các quy luật di cư nội địa. Ông nhấn mạnh yếu tố kinh tế là động lực cốt lõi thúc đẩy di cư từ vùng này sang vùng. Sau này, Lee (1966) đã giải thích cụ thể các yếu tố “lực đẩy” và “lực kéo”, yếu tố trung gian dẫn đến di cư. Ở góc độ vi mô, Stark & Bloom (1985) đã nhấn mạnh rằng di cư thường gắn liền với quyết định của hộ gia đình trên cơ sở đánh giá lợi ích, chi phí của di cư.

Hơn nữa, nghiên cứu về sinh kế hộ gia đình ở khu vực nông thôn tại các quốc gia đang phát triển, Ellis (2000) cũng đã chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập – theo hướng phi nông nghiệp, kể cả di cư đến thành thị – được xem là chiến lược sinh kế của hộ gia đình nhằm cải thiện thu nhập của hộ trước những rủi ro về sản xuất, thị trường và biến đổi khí hậu. Vì vậy, có thể nhận thấy rằng di cư lao động từ nông thôn đến thành từ lâu đã được xem như một trong những chiến lược đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình. Một vài nghiên cứu trong những năm gần đây tại các quốc gia đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ, kể cả tại Việt Nam tiếp tục cung cấp những bằng chứng phân tích nhằm khẳng định mối quan hệ trên (Nguyen & cộng sự, 2015; Huy & Nonneman, 2016; Chen & Zhao, 2017; Choithani, 2017).

Theo báo cáo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê (2020) thực hiện, cho thấy cả nước có 6,4 triệu người từ 5 tuổi trở lên là người di cư tại thời điểm khảo sát, chiếm 7,3% tổng dân số. So với các vùng kinh tế trong cả nước, Đồng bằng Sông Cửu Long luôn được ghi nhận là nơi xuất cư cao nhất và có xu hướng gia tăng trong 15 năm gần đây, tỷ suất xuất cư tăng từ 1,6‰ năm 2005 lên đến 6,5‰ năm 2015 và đến 9,0‰ năm 2019. Vì vậy, những nghiên cứu về di cư lao động nội địa tại Việt Nam từ lâu không thể không đề cập đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và cho đến nay vấn đề di cư lao động của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã được khai thác, phân tích với những khía cạnh đa dạng từ kinh tế cho đến xã hội học và môi trường. Điển hình như nghiên cứu của Huy & Khoi (2011), Huy & Nonneman (2016) phân tích những yếu tố dẫn đến di cư nội địa và tác động đến sản xuất nông nghiệp của hộ; hay nghiên cứu của Van Der Geest & cộng sự (2014) phân tích quyết định di cư như cách ứng phó với biến đổi khí hậu; hoặc nghiên cứu gần đây về di cư hôn nhân với người nước ngoài tại một vài địa phương trong vùng (Minh & Ha, 2018). Trong khi đó, nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của di cư lao động đến đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long dường như còn thiếu vắng.

Di cư nội địa luôn tồn tại trong sự phát triển kinh tế-xã hội giữa các vùng của một quốc gia và nó trở thành nguồn lực không chỉ đóng góp cho phát triển địa phương, kể cả nơi đi và nơi đến. Ở góc độ vi mô, di cư nội địa góp phần ổn định, cải thiện sinh kế và kể cả đầu tư sản xuất của hộ gia đình tại nơi xuất phát (Stark & Bloom, 1985; Ellis, 2000). Xuất phát từ tầm quan trọng của di cư nội địa đến sinh kế hộ gia đình và thực trạng gia tăng những dòng di cư từ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu này nhằm ước lượng có hay không đóng góp của di cư lao động đối với đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình, dựa theo đề xuất của của Ellis (2000) về chiến lược sinh kế của hộ gia đình.

Mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình

Kết quả tính toán mức độ đa dạng hóa thu nhập theo chỉ số Herfindahl-Hirschman và số nguồn thu nhập của hai nhóm hộ cho thấy mức độ đa dạng hóa thu nhập của nhóm hộ có thành viên di cư cao hơn so với nhóm hộ không có thành viên di cư (0,720 so với 0,685 về HHIi và 3,16 so với 3,09 về số nguồn thu nhập – Bảng 4). Sự khác biệt về giá trị trung bình của HHIi giữa hai nhóm hộ được kiểm định và ghi nhận với mức ý nghĩa thống kê 5%; trong khi đó, sự khác biệt về số nguồn thu nhập giữa hai nhóm bị bác bỏ với mức ý nghĩa 5%. Vì vậy, chỉ số HHIi sẽ được sử dụng cho phân tích.

Thông tin thống kê tại cho thấy thu nhập bình quân hàng năm của hộ trong vùng là 123 triệu VND; trong đó, nhóm hộ có thành viên di cư có thu nhập bình quân thấp hơn so với nhóm hộ còn lại khoảng 33 triệu VND/năm, hoặc tương đương 26%. Xét về cơ cấu thu nhập, nhóm hộ có thành viên di cư vẫn phụ thuộc vào hoạt động nghiệp (chiếm 42,6% tổng thu nhập); tuy nhiên, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp tại địa phương chỉ 21,4%, so với mức 35,4% của nhóm hộ còn lại. Đáng chú ý, khoản trợ cấp từ thành viên di cư gửi về đóng góp đến 13,8% tổng thu nhập của hộ có thành viên di cư. Hơn nữa, dựa vào chỉ số đa dạng hóa thu nhập (HHI ) ở dòng cuối của Bảng 5 và những thông tin đã trình bày có thể giúp nhận thấy được phần nào bức tranh quyết định di cư của hộ gia đình; thứ nhất, di cư được xem như chiến lược đa dạng hóa thu nhập của hộ trên cơ sở phân bố lực lượng lao động tham gia các hoạt động sinh kế tại địa phương và nơi khác (HHI = 0,72 so với 0,69); thứ hai, quyết định di cư xuất phát từ điều kiện kinh tế khó khăn; bởi vì đây là nhóm hộ có mức thu nhập bình quân thấp nhất trong các nhóm hộ được khảo sát và so sánh.

Tác động của di cư đến đa dạng hóa thu nhập

Kết quả ước lượng theo phương trình cho thấy được ý nghĩa kiểm định thống kê giữa mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ và các yếu tố giải thích; đặc biệt là quyết định di cư và khoản trợ cấp từ thành viên di cư. Một vài điểm nổi bật được phát hiện như sau:

Kết quả phân tích đã khẳng định các giả thuyết đặt ra trong nghiên cứu, đó là quyết định gửi thành viên đi làm việc ở địa phương khác được xem như chiến lược đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (giả thuyết 1). Đồng thời, khoản tiền gửi về gia đình từ thành viên di cư đã góp phần tích cực vào tổng thu nhập của hộ, chiếm gần 14%. Sự đóng góp thu nhập này đã làm gia tăng mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ (giả thuyết 2). Vì vậy, có đủ cơ sở thống kê để kết luận rằng quyết định di cư và những dòng trợ cấp từ thành viên di cư đã góp phần gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống của hộ gia đình, chứ không đầu tư mở rộng sản xuất hoặc kinh doanh tại địa phương. Bởi vì, kết quả thống kê cho thấy dòng tiền trợ cấp chỉ ở mức 19,5 triệu VND cho hộ có 3-4 nhân khẩu (tương đương 1,6 triệu VND/tháng/hộ), cho nên khoản trợ cấp hạn chế như thế chủ yếu được sử dụng cho sinh hoạt, đời sống của hộ; và khó có thể góp phần phát triển kinh tế địa phương. Thực trạng này tương đồng với lý thuyết về chiến lược sinh kế ứng phó với những rủi ro của hộ nông thôn và nó cũng đã được phát hiện trong các cuộc khảo sát di cư tại Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á (Tổng cục Thống kê & Quỹ Dân số Liên hợp quốc, 2016; ILO, 2018).

Về các đặc điểm của hộ, kết quả ước lượng cho thấy những hộ sinh sống ở khu vực thành thị hoặc được công nhận hộ nghèo có xu hướng tham gia đa dạng hóa sinh kế. Thực ra, kết quả như thế đã được phát hiện và giải thích theo nhiều hướng khác nhau; cụ thể như, điều kiện nghèo khó vừa là yếu tố thúc đẩy, vừa là yếu tố rào cản di cư. Trong nghiên cứu trước đó, Khai & Danh (2014) đã chỉ ra hộ có điều kiện kinh tế tốt hơn sẽ đa dạng hóa theo hướng đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh; bên cạnh đó, những hộ sống ở khu vực thành thị – có hệ thống giao thông thuận tiện, có quan hệ xã hội – có xu hướng đa dạng hóa thu nhập hơn những hộ ở khu vực nông thôn. Trong số các đặc điểm của chủ hộ, độ tuổi thể hiện ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ. Như đã trình bày ở phần mô tả, đây được xem là yếu tố năng lực, kinh nghiệm của chủ hộ trong việc đưa ra quyết định sinh kế của hộ; trong khi đó, yếu tố học vấn không thể hiện sự ảnh hưởng trong phân tích.

Cuối cùng, những dòng trợ cấp từ các tổ chức địa phương có sự ảnh hưởng không lớn đến mức độ đa dạng hóa thu nhập so với những dòng trợ cấp từ những thành viên di cư gửi về. Thật ra, khoản trợ cấp từ các tổ chức địa phương không nhiều (khoảng 2,5 triệu VND/năm) và không thường xuyên (như hỗ trợ thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gia súc, gia cầm), so với gần 20 triệu VND/năm từ những thành viên di cư gửi về.

Đóng góp của di cư lao động đối với đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình

Kết quả phân tích từ 1.905 hộ gia đình tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long về đa dạng hóa thu nhập gắn với yếu tố di cư đã thể hiện được một vài điểm nổi bật sau đây:

Quyết định di cư của hộ gia đình thông qua việc phân bổ lao động làm việc tại địa phương và nơi khác được xem như chiến lược đa dạng hóa thu nhập và cải thiện thu nhập của hộ gia đình.
Dòng tiền gửi gửi về từ thành viên di cư đã đóng góp đến 14% trong tổng thu nhập của hộ và làm tăng mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ. Quan tâm hơn, khoản trợ cấp này chủ yếu được sử dụng cho đời sống, thay vì đầu tư sản xuất.

Mặc dù, kết quả nghiên cứu đã phản ánh được vấn đề nghiên cứu đặt ra, chiến lược đa dạng hóa thu nhập của hộ khá đa dạng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố đã được ghi nhận qua những nghiên cứu được lược khảo. Vì vậy, nghiên cứu này tồn tại những hạn chế, cụ thể: (i) kết quả ước lượng chỉ phản ánh sự tương quan của từng yếu tố giải thích và mức độ đa dạng hóa thu nhập; trong khi đó, phân tích giữa các yếu tố còn bỏ ngỏ; (ii) diễn giải sự đóng góp của yếu tố di cư đến chiến lược độ đa dạng hóa thu nhập của hộ theo hướng cải thiện đời sống chủ yếu dựa vào kết quả thống kê, phân tích tương quan, và tham chiếu lược khảo nghiên cứu; điều này không đủ mạnh để khẳng định cho sự giải thích; và (iii) bối cảnh thực tiễn hoạt động sinh kế của hộ gia đình hiện tại có thể có sự thay đổi so với năm 2016, mặc dù kết quả phân tích cũng khá tương đồng với kết quả phân tích từ dữ liệu năm 2010. Điều này cho thấy tính ổn định về các đặc điểm của hộ, một phần do khảo sát lặp lại các hộ qua từng kỳ khảo sát. Dù sao đi nữa, sự thiếu cập nhật dữ liệu phân tích gần nhất như năm 2018 hoặc 2020 vẫn phải ghi nhận như sự hạn chế của nghiên cứu.

Một vài khuyến nghị nghiên cứu về chiến lược đa dạng hóa thu nhập và di cư được chỉ ra:

  • Thứ nhất, cần có nghiên cứu chuyên sâu và cập nhật dữ liệu nhằm làm rõ sự đóng góp của di cư đến chiến lược đa dạng hóa thu nhập dựa vào động cơ của thành viên di cư, bao gồm: gắn kết gia đình, trao đổi trách nhiệm gia đình, đầu tư sản xuất, hoặc tích lũy tài sản.
  • Thứ hai, sử dụng dữ liệu dạng chuỗi thời gian qua các thời kỳ khảo sát nhằm tìm kiếm sự thay đổi của chiến lược đa dạng hóa thu nhập gắn liền với yếu tố di cư, đặc biệt sự ổn định của các nguồn thu nhập.
  • Thứ ba, những nghiên cứu trước những năm 2010 luôn khẳng định rằng hộ nông thôn thường quyết định đa dạng hóa thu nhập nhằm ứng phó rủi ro và ổn định thu nhập, những nghiên cứu khoảng thập niên gần đây phát hiện hộ thành thị có xu hướng đa dạng hóa hơn hộ nông thôn, trong khi đó đóng góp vật chất của di cư đối với hộ còn khiêm tốn.
  • Thứ tư, chính sách thúc đẩy đa dạng hóa thu nhập cho lao động tại địa phương cần quan tâm gắn với chương trình hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm sản xuất, thương mại và dịch vụ du lịch nông nghiệp, cũng như lĩnh vực phi nông nghiệp khác.

Điều này sẽ kỳ vọng góp phần thay đổi cơ cấu thu nhập của những hộ khó khăn về kinh tế theo hướng gia tăng thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp như một giải pháp để gia tăng thu nhập.

Đóng góp của di cư lao động đối với thu nhập gia đình

Tác động của thể chế đến giảm nghèo tại Việt Nam

5/5 - (1 bình chọn)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

This site uses cookies. By browsing this website, you agree to our use of cookies. Visit our Privacy Policy