Sự bóp méo thương mại và các hàng rào Marketing

Sự bóp méo thương mại và các hàng rào Marketing trong Thương mại quốc tế

Sự bóp méo thương mại và các hàng rào Marketing
Các hàng rào Marketing

Ý tưởng của tự do mậu dịch tạo nên nhiều nhận thức mang tính lý thuyết bởi thực tiễn tăng thêm hiệu quả và phúc lợi kinh tế cho tất cả các quốc gia liên quan và những công dân của các nước đó. Tuy vậy, một điều đáng buồn là tự do mậu dịch trên thực tế đã bị hầu hết các quốc gia coi nhẹ. Có lẽ không có sản phẩm nào là thí dụ minh hoạ cho điều này tốt như sản phẩm ô tô. Khi ô tô của Nhật Bản được nhập khẩu vào nước Mỹ, Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ chấp nhận sự kiểm tra ngẫu nhiên của người Nhật Bản để đảm bảo đúng theo yêu cầu của những tiêu chuẩn về ô tô của Mỹ. Ngược lại, Nhật Bản không chấp nhận những sự kiểm tra được thực hiện bởi bất cứ nước nào xuất khẩu ô tô tới Nhật Bản. Bởi vì sự không tin cậy này, những kỹ sư của Nhật Bản đã được gửi qua Mỹ 2 tháng để chứng kiến và chứng nhận rằng sự kiểm tra xe cộ vẫn phải được tiến hành ở một phòng đăng ký địa phương với những dây chuyền kiểm tra khác. Do không chấp nhận những kết quả kiểm tra của nước ngoài, Nhật Bản tất yếu phải tiến hành những quá trình kiểm tra lại tốn kém ở Nhật Bản, kéo dài 18 tháng hoặc hơn. Trong thời gian đó, những người bán hàng, những người nhập khẩu bị bó buộc tại văn phòng đăng ký thay vì ở trong phòng trưng bày để bán những chiếc xe ô tô. Không lấy gì làm ngạc nhiên, xuất khẩu ô tô của Nhật Bản nhiều gấp 80 lần nhập khẩu. Trong năm 1984, Nhật bản bán khoảng 2 triệu ô tô ở Mỹ trong khi Chrysler đã phải xoay sở mà chỉ bán được có 197 xe ô tô ở Nhật Bản.

          Để trả đũa, bộ trưởng bộ công nghiệp Pháp đã từ chối đưa ra những chứng chỉ về kỹ thuật không quan trọng cho ô tô được nhập từ Nhật Bản. Ví dụ, Mazda 626 đã bị loại ra bởi vì thanh bảo vệ của nó dài hơn 1 cm so với năm trước đấy. Canada cũng vậy, họ kéo dài quá trình thanh tra và chứng nhận cho ô tô của Nhật Bản. ở Mỹ, Quốc hội đã thông qua một cuộc “bỏ phiếu địa phương” đưa ra dự luật yêu cầu 90% ô  tô của Nhật Bản bán tại thị trường Mỹ phải được sản xuất ở Mỹ.

          Trong nhiều năm, họ đã có nhiều cuộc thảo luận về việc hạn chế nhập khẩu ô tô của nước ngoài vào thị trường Mỹ. Nếu điều này trở thành hiện thực, những khách hàng Mỹ có thể phải trả nhiều tiền hơn cho những chiếc xe ô tô của nước ngoài được sản xuất ở địa phương. Để làm cho vấn đề trở nên xấu hơn, khách hàng sẽ nhận ra rằng giá ô tô trong nước sẽ tăng đáng kể mặc dù giá cả hiện tại đã rất cao rồi.

          Những nhà sản xuất thép của Mỹ cũng có nhữn vấn đề tương tự, và họ đã liên tục đòi hỏi chính phủ hạn chế, đánh thuế, hoặc dựng lên các hàng rào đối với thép nhập khẩu từ nước ngoài bởi vì những sản phẩm này của nước ngoài có giá thấp hơn nhiều. Không đếm xỉa đến việc các hãng sản xuất thép của nước ngoài có được những lợi thế quá nhiều hay không, không ai có thể phủ nhận rằng tiền lương trong ngành công nghiệp thép của Mỹ khá cao – cao nhất trong tất cả các ngành công nghiệp sản xuất của Mỹ. Những nhà sản xuất thép của Mỹ chắc chắn trong những vấn đề nghiêm túc, nhưng những khách hàng Mỹ có phải chịu thiệt hại bởi việc phải chi nhiều hơn cho sự kém hiệu quả của những nhà sản xuất? Nếu những hãng sản xuất thép và ô tô có thể có đường lối của mình về hạn chế nhập khẩu, những ngành công nghiệp khác có thể sớm làm theo. Chẳng bao lâu nữa, những khách hàng có thể phải chi nhiều hơn cho ti vi, quần áo, vân vân. Và người được lợi trong tình huông này chắc chắn không phải là khách hàng.

          Bất chấp những lợi thế, các quốc gia có khuynh hướng ngăn cản tự do mậu dịch. Tại sao các quốc gia lại ngăn cản tự do mậu dịch khi sự hạn chế là phi lý? Chương này sẽ đưa ra các loại và tác động của các hàng rào Marketing. Nó sẽ xem xét những hạn chế về thương mại và nhân tố cơ bản, nếu có, đằng sau nó. Hiểu rõ những hàng rào này, những người làm Marketing phải ở trong một vị trí tốt hơn để đương đầu với chúng.

          Không thể nào liệt kê tất cả các hàng rào Marketing bởi vì đơn giản là chúng rất nhiều. Thêm nữa, các chính phủ liên tục đưa ra những biện pháp hạn chế nhập khẩu mới hoặc điều chỉnh những biện pháp hiện đang sử dụng. Theo mục đích nghiên cứu, hàng rào Marketing có thể chia thành 2 phạm trù cơ bản: hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan. Exhibit 3-1 trình bày chi tiết về sự phân chia này. Mỗi phami trù và những phạm trù của nó sẽ được bàn đến trong chương này.

Sự bảo hộ công nghiệp địa phương

Một sự giải thích về việc các chính phủ can thiệp vào tự do Marketing là để bảo vệ nền công nghiệp địa phương thường do sự chi tiêu của những khách hàng địa phương cũng như khách hàng trên toàn thế giới. Những quy tắc được tạo ra để không cho phép hoặc hạn chế hàng hoá của nước ngoài vào. Những lý lẽ cho sự bảo hộ nền công nghiệp địa phương thường là một trong những dạng sau : (1) giữ tiền ở lại trong nước, (2) giảm thất nghiệp, (3) làm cân bằng chi phí và giá cả, (4) tăng cường an ninh quốc gia, và (5) bảo vệ nền công nghiệp non trẻ.

Giữ tiền ở lại quốc gia

Những nghiệp đoàn và những người chủ trương bảo hộ thường tranh luận rằng thương mại quốc tế sẽ dẫn đến việc đồng tiền “chảy ra” nước ngoài, làm cho những người nước ngoài trở nên giàu hơn và những người địa phương trở nên nghèo hơn. Lý lẽ này là do sự sai lầm của việc coi tiền như là biểu thị sự giàu có. Ví dụ, không thể nói rằng một người là người nghèo chỉ bởi vì anh ta không có nhiều tiền mặt trong tay trong khi anh ta có rất nhiều tài sản quý giá như đất đai và đồ kim hoàn. Thêm nữa, những lý lẽ của những người chủ trương bảo hộ này đã giả thuyết rằng những người nước ngoài nhận tiền mà không phải đưa lại những cái gì đó có giá trị. Khi những khách hàng địa phương mua những hàng hoá của địa phương hay những hàng hoá của nước ngoài, họ sẽ phải dùng tiền để trả cho những sản phẩm này. Trong mọi trường hợp , họ nhận được những sản phẩm có giá trị tương đương với số tiền bỏ ra.

Giảm thất nghiệp

Đây là một tiêu chuẩn thực tế cho những nghiệp đoàn và những chính khách để tấn công vào việc nhập khẩu và thương mại dưới cái tên bảo vệ việc làm. Exhibit 3-2 đã đưa ra lý lẽ của Liên hiệp công nhân ngành thép của Mỹ. Lý lẽ này dựa vào sự làm ra vẻ rằng việc giảm nhập khẩu sẽ tạo ra nhiều nhu cầu hơn cho những sản phẩm nội địa và do đó sẽ tạo thêm nhiều việc làm. Hầu hết các phân tích thị trường xét ý kiến này trên một khía cạnh, không phải là không có giá trị. Tối thiểu, nhập khẩu cũng làm những người ngoại quốc kiếm được ít đô la hơn với việc họ có thể mua hàng xuất khẩu của Mỹ. Và kết quả là, nhu cầu của nước ngoài đối với những sản phẩm của Mỹ sẽ giảm. Ngoài ra, những công ty nước ngoài có thể từ chối đầu tư vào Mỹ. Họ chỉ sẵn sàng đầu tư chỉ khi nhu cầu nhập khẩu đủ lớn để bù đắp chi phí xây dựng và sử dụng các phương tiện của địa phương. Ví dụ, Mitsubishi sử dụng thị phần thị trường và doanh số hàng bán theo tiêu chuẩn của họ để xác định liệu họ có nên đầu tư để sản xuất tại Mỹ. Công ty nhận thấy doanh số bán hàng năm của họ phải vượt hơn mức tối thiểu 240000 đơn vị trước khi việc sản xuất ở Mỹ được thực hiện. Sự quan trọng của đầu tư nước ngoài không thể xem nhẹ. Những tài sản và đầu tư trực tiếp nước ngoài và Mỹ tương ứng là 418.2 tỷ USD và 53.3 tỷ USD. Tám nước (Hà Lan, Anh, Canada, Tây Đức, Nhật Bản, Netherland Antilles, Thụy Sỹ và Pháp) chiếm tới gần 90% tổng đầu tư. Với 40% đầu tư vào ngành sản xuất, 20% đầu tư vào thương mại, 20% đầu tư vào dầu khí, 7% đầu tư vào bảo hiểm, đầu tư đóng góp đáng kể trong việc tạo việc làm ở Mỹ.

          Một vấn đề của sự bảo hộ đó là nó có thể dẫn tới lạm phát. Thay vì việc giảm bớt sự bảo hộ để thu được hoặc lấy lại thị phần cho cạnh tranh thu hút đầu tư, những nhà sản xuất địa phương thường không thể chống lại những khuôn mẫu của việc tăng thêm những ….. của họ

Theo Viện Kinh tế Quốc tế, việc áp dụng hạn ngạch đã tạo điều kiện cho nhiều ngành công nghiệp Mỹ thu được lợi nhuận phụ thêm nhờ giá cao hơn vào năm 1986. Những khoản lợi nhuận phụ thêm này là rất lớn: dệt may-3,5tỷ USD, thép 2,8 tỷ, ôtô 2,5 tỷ.

          Với giá cả cao ở thị trường trong nước, người tiêu dùng trở nên nghèo tương đối và muáit hơn, nền kinh tế trở nên kén sức cạnh tranh. Một số nước khác bằng việc từ chối không nhập khẩu hàng từ Mỹ đã làm cho vấn đề trầm trọng hơn. Khi Mỹ áp dụng thuế nhập khẩu và hạn ngạch vào 160 tr USD thép đặc biệt từ Châu Âu vào năm 1983, Cộng đồng Châu Âu đã trả đũa bằng việc hạn chế nhập khẩu hơn 200tr USD các mặt hàng của Mỹ. Năm 1986, Mỹ áp dụng thuế nhập khẩu vào các sản phẩm cây tuyết tùng của Canada- trị giá250tr USD, Canada ngay lập tức trả đũa bằng việc áp dụng thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng của Mỹ là: sách, báo chí, linh kiện máy tính, bán dẫn, thông Noel, nước táo và chè túi.

          Không phải mọi tổ chức lao động đều ủng hộ việc hạn chế nhập khẩu. Hiệp hội Đóng tàu Quốc tế đã xem việc này là một điều bất lợi. Họ cho rằng việc đó có thể làm mất từ 7.500 đến 11.600 việc làm tại các xưởng tàu. Sự tăng số việc làm tại một ngành này sẽ làm giảm cơ hội việc làm tại các ngành khác. Các biện pháp của giới bảo hộ do vậy cũng khó mà thành công. Do vậy nước Mỹ cũng khó có thể tăng việc làm trong dài hạn theo tư duy như vậy.

          Tác động của hàng nhập khẩu và các hạn chế thương mại tới việc làm thì khó mà có thể xác định chính xác được. Người ta sẽ không biết chính xác được bao nhiêu việc làm bị mất ở ngành công nghiệp  ôtô và các ngành có liên quan nếu lệnh cấm nhập khẩu ôtô đối với Nhật bị rỡ bỏ. Các con số dự tính khác nhau là: Chrysler 750 việc làm, United Auto Worker 200 việc làm, Merrill Lynch 50.000 việc làm … . Mặc dù các ước tính về thiệt hại ( chi phí) do bảo hộ không đồng nhất, nhưng tất cả đều thống nhất chỉ ra rằng: chi phí đó của người tiêu dùng là cực kỳ lớn. Hạn ngạch áp dụng vào xe hơi vào đầu nhưng năm 1980 làm giá xe tăng 1300 USD (30%), tạo ra 460tr USD lợi nhuận siêu ngạch cho những nhà sản xuất nội địa Mỹ. Nhìn chung 4 năm áp dụng hạn ngạch đã làm tăng giá xe hơi 15,7 tỷ USD tạo ra 44.000 việc làm, do vậy chi phí tạo việc làm là357.000 USD/ việc làm. Minh hạo 3-3 cho thấy chi phí của việc tạo việc làm bằng bảo hộ.

5/5 - (1 bình chọn)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

This site uses cookies. By browsing this website, you agree to our use of cookies. Visit our Privacy Policy